Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Ngủ thế nào để có lợi cho sức khỏe nhất ?

Tư thế nằm ngửa được coi là một trong những tư thế ngủ có lợi cho sức khỏe nhất. Với tư thế này, bạn không phải lo lắng về việc bị đau cổ.
Xem thêm: tac dung tra giao co lam


http://vitana.vn/wp-content/uploads/2015/01/tra-giao-co-lam-300x300.jpg
Nằm ngửa để ngủ cũng giúp bạn tránh được việc hình thành các nếp nhăn trên khuôn mặt, giúp bạn duy trì được sự trẻ trung.

Tư thế này giúp đầu cao hơn dạ dày, ngăn chặn hiện tượng trào ngược dạ dày.

Tuy nhiên, với những ai ngủ ngáy thì tư thế ngủ này khiến tình trạng ngáy ngủ của bạn tồi tệ thêm.

Ngược lại với nằm ngửa, nằm sấp khi ngủ sẽ khiến bạn hạn chế tình trạng ngủ ngáy và nó cũng được coi là một tư thế ngủ tốt cho sức khỏe.

Tuy nhiên, tư thế này lại không có lợi cho những người bị đau khớp. Ngoài ra, nó tăng cường áp lực lên cơ và dây thần kinh.
Xem thêm: tra giao co lam

Ngủ nghiêng bên trái là tư thế ngủ tốt nhất cho bà bầu do nó giúp cho quá trình tuần hoàn máu tới em bé.

Tư thế ngủ nghiêng cũng có lợi cho những người bị hiện tượng trào ngược dạ dày.

Tư thế ngủ nghiêng giúp hạn chế hiện tượng ngáy ngủ và hôi miệng.

Tuy vậy, tư thế này nhìn chung không tốt cho chị em, do nó tăng khiến ngực chị em có nguy cơ bị chảy xệ.

Xem thêm: tra giao co lam bao nhieu tien 1kg

Thực hư về lá lốt chữa bá bệnh

Lá lốt là loại rau quen thuộc và được dùng phổ biến trong các bữa ăn. Lá lốt thường được sử dụng ăn sống như các loại rau thơm hoặc làm rau gia vị khi nấu canh.

Theo một lương y có tên Phạm Như Tá làm việc tại viện y học cổ truyền cho hay, lá lốt có vị cay nhẹ, mùi thơm, tính ẩm và có công dụng trị đau nhức xương khớp, chứng đổ mồ hôi…

Loại lá này vẫn được các bà nội trợ sử dụng để cuốn thịt làm chả. Món ăn được chế biến với lá lốt đặc biệt sẽ trở nên rất thơm nhờ các thành phần có trong nó.
Xem thêm: tra giao co lam



Lá lốt được dùng để cuốn chả.
Lá lốt được dùng để chế biến rất nhiều món ăn như luộc chấm nước mắm tỏi gừng, xắt nhỏ như sợi chỉ để ăn sống hoặc xào với thịt bò, thịt lươn... thành các món ăn vô cùng hấp dẫn.

Ngoài ra, lá lốt có thể dùng để bọc thịt băm, thịt bò, cá rán, nướng dưới bếp than cũng rất ngon. Nhưng ngon nhất có lẽ là món canh lá lốt nấu thịt hoặc nấu với cá bớp, cho thêm vài sợi gừng tươi. Lá lốt nấu canh ban đầu ăn hơi đắng có thể chưa quen, nhưng ăn nhiều sẽ thấy vị của nó vô cùng đặc sắc.

Việc ăn lá lốt thường xuyên sẽ giúp người ăn phòng và chữa được nhiều bệnh như chống viêm, giảm đau nhức xương khớp.

Thần dược lá lốt trị “bách bệnh”

Lá lốt là vị thuốc rất tốt cho sức khỏe
Mụn nhọt: Lá lốt, lá chanh, lá ráy, tía tô, mỗi vị 15g. Trước tiên lấy lớp vỏ trong của cây chanh (bỏ vỏ ngoài) phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn rắc vào vết thương, sau đó các dược liệu trên rửa sạch, giã nhỏ đắp vào nơi có mụn nhọt rồi băng lại. Ngày đắp 1 lần. Đắp trong 3 ngày.

Viêm tinh hoàn: Tinh hoàn sưng to, người mệt mỏi, không chịu chơi, ít vận động, hay nằm: lá lốt 12g, lệ chi 12g, bạch truật 12g, trần bì 10g, bạch linh 10g, sinh khương 21g, sơn thù 6g, phòng sâm 6g, hoàng kỳ 5g, cam thảo (chích) 4g. Đổ 600ml nước, sắc còn 200ml, chia nhiều lần cho trẻ uống trong ngày.
Xem thêm: dia chi ban tra giao co lam
http://vitana.vn/wp-content/uploads/2015/01/tra-giao-co-lam-300x300.jpg

Với những công dụng chữa bệnh của lá lốt trên đây mà chúng tôi vừa giới thiệu đã được chứng minh là có tác dụng rất hiệu quả, nếu bạn gặp phải những vấn đề trên hãy sử dụng những cách này để cải thiện tình hình xem sao nhé. Chúc bạn luôn có được một sức khỏe tốt.

Viêm nhiễm âm đạo, ngứa, ra nhiều khí hư: Lấy 50 gr lá lốt, 40 gr nghệ, 20 gr phèn chua, đổ nước ngập thuốc khoảng hai đốt ngón tay, đun sôi thì bớt lửa sôi liu riu khoảng 10 - 15 phút rồi chắt lấy một bát nước, để lắng trong, dùng rửa âm đạo. Số thuốc còn lại đun sôi để xông hơi vào âm đạo, rất hiệu nghiệm.

Đau nhức xương khớp: Lấy 20 gr lá lốt, 12 gr thiên niên kiện, 16 gr gai tầm xoang, sắc với 400 ml nước còn 100 ml, chia uống trong ngày. Uống liền trong một tuần. Hoặc lấy 15 gr lá lốt, 15 gr rễ cây vòi voi, 15 gr rễ cây cỏ xước, 15 gr rễ cây bưởi, thái mỏng, sao vàng. Sắc với 600 ml nước còn 200 ml, uống ba lần trong ngày. Uống liền trong một tuần. Hoặc lấy 5 - 10 lá lốt phơi khô hay 15 - 30 gr lá lốt tươi, sắc kỹ với nước, chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Uống liền một tuần.

Trị chứng ra nhiều mồ hôi ở tay, chân: Lá lốt tươi 30g, rửa sạch, để ráo cho vào 1 lít nước đun sôi khoảng 3 phút, khi sôi cho thêm ít muối, để ấm dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân thường xuyên trước khi đi ngủ tối. Thực hiện liên tục trong 5-7 ngày.

Hoặc lá lốt 30g, thái nhỏ, sao vàng hạ thổ. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Chia 2 lần, uống trong ngày. Uống trong 7 ngày liền. Sau khi ngừng uống thuốc 4 đến 5 ngày lại tiếp tục uống một tuần nữa.

Đau bụng do lạnh: Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.

Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.

Kiết lỵ: Lấy một nắm lá lốt sắc với 300 ml nước, chia uống trong ngày.

Lá lốt là loại cây rất dễ trồng và cực kì tốt cho sức khỏe, dù dùng lá lốt trong chế biến món ăn hay dùng lá lốt trong các bài thuốc trị bệnh thì nó đều có công dụng rất tốt được nhân dân ưa chuộng.

Xem thêm: gia ban tra giao co lam

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2015

Cơm chan canh dễ ăn nhưng hại sức khỏe

Theo chuyên gia dinh dưỡng, trong bữa cơm cần hạn chế các loại nước dù là nước canh hay nước lọc.

Khi ăn cơm dù uống bất kỳ loại nước nào cũng đều làm cho quy trình tiêu hóa bị ảnh hưởng vì nó làm tăng kích thích của dạ dày. Khi có quá nhiều chất lỏng và thức ăn trong dạ dày sẽ khiến cho quá trình tiêu hóa chậm lại.


Xem thêm: tra giao co lam bao nhieu tien 1kg


http://vitana.vn/wp-content/uploads/2015/01/tra-giao-co-lam-300x300.jpg
BS Doãn Thị Tường Vy – nguyên Trưởng Khoa dinh dưỡng (BV 198) cho biết, thói quen của rất nhiều người là ăn cơm với canh nghĩa là vừa ăn vừa uống. Điều này sẽ tăng gánh nặng cho hệ tiêu hóa.

Thức ăn vào dạ dày sẽ trải qua các giai đoạn ngâm mềm, nghiền nát, tiêu hoá.
Khi nhai thức ăn, nước bọt không ngừng được tiết ra để làm ẩm thức ăn giúp việc nhai thức ăn diễn ra nhanh hơn, enzyme trong nước bọt cũng hỗ trợ quá trình tiêu hóa và hấp thụ thức ăn được tốt hơn.

Việc ăn cơm chan canh, thức ăn được nuốt nhanh hơn sẽ không được hấp thụ nước bọt đã tiêu hóa xuống dạ dày từ đó làm tăng gánh nặng cho hệ tiêu hóa.

Thức ăn vào dạ dày vẫn còn ở dạng cứng và chưa được nghiền nhỏ làm kéo dài thời gian lưu giữ thức ăn trong dạ dày dẫn tới tổn thương niêm mạc dạ dày, dạ dày phải làm việc nhiều hơn, dễ đau hơn.

Ngoài ra, thói quen này còn khiến người ta lười nhai, nuốt nhanh hơn.
Những người đau dạ dày càng không nên ăn cơm chan canh. Trẻ nhỏ đang trong giai đoạn ăn dặm sẽ càng nguy hại hơn khi rất nhiều bậc cha mẹ hiện có thói quen cho con ăn cơm chan canh để con ăn nhanh, dễ nuốt.

Điều này khiến trẻ hấp thụ được ít chất dinh dưỡng do khi ăn cơm canh cùng tạo cảm giác nhanh no nhưng thực tế là hiện tượng no ảo, dẫn tới thiếu chất.
Xem thêm: tac dung tra giao co lam

Về lâu dài sẽ tạo cho trẻ thói quen lười nhai, ảnh hưởng xấu tới sự phát triển cơ hàm ở trẻ. Khi hệ thống tiêu hóa làm việc bình thường, thức ăn dễ tiêu hóa và cơ thể có thể hấp thụ đầy đủ các chất dinh dưỡng nhanh hơn.

Vậy thời điểm nào lý tưởng để ăn canh không gây hại sức khỏe, các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo mọi người cần đảm bảo nguyên tắc nên "ăn như uống" tức là nhai kỹ để thức ăn mềm như nước rồi mới nuốt và "uống như ăn" tức là uống từ từ từng ngụm nhỏ một.

Nên uống các loại nước, kể cả nước hoa quả hay nước lọc sau bữa ăn ít nhất là 1 giờ đồng hồ để dạ dày hoàn thành nhiệm vụ tiêu hóa thức ăn mới nạp vào.

Nên uống nước canh trước khi bắt đầu ăn cơm và các thức ăn khác hoặc ăn canh sau cùng. Những người muốn ăn kiêng hoặc giảm cân thì nên uống 1-2 bát canh trước bữa ăn để tạo cảm giác no, ngăn chặn việc ăn quá nhiều cơm.
Còn trẻ nhỏ nên cho uống canh sau cùng để tránh làm cho trẻ có cảm giác no, không muốn ăn khi vào bữa.
Xem thêm: tra giao co lam

5 loại gạo tốt nhất cho sức khỏe con người

1. Gạo đen – Tốt cho thận nhất

Gạo đen rất giàu dinh dưỡng, bao gồm  protein, chất béo, vitamin nhóm B, canxi, phốt pho, sắt, kẽm… Gạo đen có giá trị dinh dưỡng cao hơn gạo tẻ thường. Nó có thể nâng cao đáng kể hàm lượng hemoglonom và hồng cầu trong máu, giúp bảo vệ hệ thống tim mạch, có lợi cho sự phát triển của xương và trí não trẻ nhỏ, đồng thời có thể thúc đẩy phục hồi sức khỏe cho sản phụ, người mới ốm dậy, cho nên nó là thực phẩm bổ dưỡng rất lý tưởng.
Xem thêm: tra giao co lam

Gạo đen có tác dụng dưỡng âm bổ thận, ích khí cường thân, kiện tỳ khai vị, dưỡng sức, là thực phẩm chống lão hóa da. Do gạo đen không dễ nấu, vì vậy, bạn nên ngâm qua đêm rồi mới nấu. Trẻ nhỏ chức năng tiêu hóa kém và người già yếu không nên ăn.

2. Gạo kê – Tốt cho dạ dày nhất

Gạo kê giàu các thành phần dinh dưỡng như protein, chất béo, carbonhydrate, vitamin B2, niacin, canxi, phốt pho, sắt… Do gạo kê dễ bị hấp thu vào cơ thể, nên được các chuyên gia dinh dưỡng gọi là “gạo chăm sóc sức khỏe”.

Gạo kê có tác dụng kiện tỳ hòa trung, ích thận khí, thanh nhiệt, lợi tiểu, là thực phẩm giàu dinh dưỡng phục hồi sức khỏe điều trị các bệnh tỳ vị hư, thể chất yếu, thiếu máu sau sinh, chán ăn. Những người thể chất yếu, thận yếu không nên ăn nhiều gạo kê vì nó nó có thể khiến thận hoạt động vất vả hơn.

gao1 Giá trị dinh dưỡng và tác dụng chữa bệnh của 5 loại gạo quen thuộc

Mỗi loại có giá trị dinh dưỡng riêng và tác dụng chữa bệnh mà chúng ta không ngờ đến. Ảnh minh họa

3. Gạo nếp – Thải độc tốt nhất

Trong gạo nếp có nhiều chất dinh dưỡng như protein, chất béo, carbonhydrate, canxi, phốt pho, sắt, vitamin B2, một lượng lớn tinh bột… Đây là loại gạo dẻo và có giá trị dinh dưỡng cao. Người ta thường dùng để nấu xôi, nấu chè, làm bánh… Gạo nếp có vị ngọt, mùi thơm, nhiều nhựa và có tính âm. Có tác dụng làm khỏe tì, mạnh phổi, chữa chứng đi phân lỏng, tiểu tiện khó, chứng đổ mồ hôi trộm và giải được một vài độc tính.

Gạo nếp còn giúp ấm bụng, có tác dụng tốt với những người bị viêm loét dạ dày. Tuy nhiên, không nên ăn quá nhiều gạo nếp vì nó sẽ khiến nóng trong người, nhất là những người đang bị mụn nhọt, vết thương sưng tấy.
Xem thêm: dia chi ban tra giao co lam

http://vitana.vn/wp-content/uploads/2015/01/tra-giao-co-lam-300x300.jpg

4. Gạo tẻ – Bổ dưỡng nhất

Gạo tẻ có chứa các thành phần cần thiết cho cơ thể như tinh bột gạo, protein, chất béo, vitamin B1, niacin, vitamin C, canxi, sắt… do đó nó có thể cung cấp dinh dưỡng, calo cần thiết cho cơ thể.

Gạo tẻ phổ biến nhất khi được dùng để nấu cơm ăn hàng ngày. Gạo có vị ngọt, tính mát, giúp điều hòa tì vị, lợi tiểu, trị được chứng đi phân lỏng hoặc tả lỵ. Đặc biệt, khi dùng gạo nấu cháo trắng sẽ giúp giải cảm và giải tỏa cơn khát, tránh mất nước.

5. Gạo lứt – Tốt cho tiêu hóa nhất

Gạo lứt rất bổ nhờ lớp vỏ cám bên ngoài. Trong lớp cám đó có chứa một chất dẫn đặc biệt giúp điều hòa huyết áp, làm giảm lượng cholesterol xấu, ngăn ngừa các bệnh về tim mạch.

Ăn cơm gạo lứt giúp điều hòa ngũ tạng, thông phế quản, bổ tì vị, cung cấp can xi giúp xương cứng cáp, cầm được chứng tả lỵ, giúp trí thần minh mẫn. Ngoài nấu cơm, gạo lứt còn dùng để làm cốm, nấu cháo với đậu đỏ…
Xem thêm: gia ban tra giao co lam

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2015

Thực phẩm có lợi cho người tang huyếp áp và hướng điều trị

Rau xanh và trái cây chứa nhiều loại vitamin và khoáng tố. Vitamin giúp ích cho việc phòng trị bệnh cao huyết áp bao gồm vitamin C và E có nhiều trong cam, quýt, bưởi, táo... Vitamin C có tác dụng làm giảm cholesterol, tăng tính đàn hồi mạch máu, vitamin E có trong quả bơ, dâu, thanh long, lúa mì... có tác dụng chống oxy hóa mạnh, ngăn ngừa nhiều axit béo không bão hòa, đảm bảo tính hoàn chỉnh của màng tế bào, phòng ngừa chứng xơ cứng động mạch.

Các khoáng tố có tác dụng nhất định đối với việc phát sinh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tăng mỡ máu. Kali là một chất giúp làm giảm tác dụng của muối lên thành mạch có trong chuối, dưa hấu, thơm... Rau xanh và trái cây cung cấp lượng chất xơ ngăn ngừa táo bón, đây cũng là bệnh lý thường hay mắc phải trên bệnh nhân tăng huyết áp.


Xem thêm: tra giao co lam bao nhieu tien 1kg


http://vitana.vn/wp-content/uploads/2015/01/tra-giao-co-lam-300x300.jpg

Lương thực sơ chế như gạo lứt, bắp, bo bo, yến mạch, bánh mì đen... cung cấp lượng chất xơ và các vitamin nhóm B, lượng chất xơ hàng ngày nên đạt trên 15 g. Chất xơ ngoài tác dụng chống táo bón còn có tác dụng giữ lại cholesterol trong lòng ống tiêu hóa, hạn chế sự hấp thu cholesterol vào máu, làm giảm HDL, VLDL, Triglycerid trong máu... Phòng ngừa xơ cứng động mạch, hỗ trợ tiêu hóa làm tăng tiết axit mật. Vitamin nhóm B hỗ trợ quá trình chuyển hóa trong tế bào, đặc biệt là tế bào thần kinh.

Đạm

Đối với đạm động vật nên dùng cá thay thế thịt, cá có chứa nhiều axit béo không bão hòa, giúp giảm cholesterol máu, ức chế hình thành máu đông dự phòng tai biến mạch máu não.

Trong cá biển có chứa nhiều omega3, axit linolenic dễ tiêu hóa, làm tăng tính đàn hồi đối với mao mạch, có tác dụng nhất định phòng ngừa các biến chứng của cao huyết áp. Tốt nhất hàng tuần ăn cá 2-3 lần. Đạm thực vật có trong thực vật như các loại đậu, đậu nành, nấm...

Chất béo

Chế độ ăn giảm mỡ là tiết giảm cholesterol, nên thay đổi chế độ ăn từ chất béo bão hòa sang chất béo không bão hòa. Dầu ôliu, hướng dương, đậu nành... thay mỡ, dầu dừa, đậu phộng. Thức ăn nướng, hấp thay cho thức ăn chiên xào... Các sản phẩm từ sữa ít béo hay không béo là nguồn thực phẩm giàu canxi. Các nhà dinh dưỡng khuyên những người bệnh cao huyết áp lựa chọn các loại sữa không kem, sữa chua ít béo hoặc không béo.
Xem thêm: tac dung tra giao co lam

Dự phòng và điều trị bệnh tăng huyết áp

- Điều chỉnh dinh dưỡng hợp lý.

- Giảm bia rượu và các chất kích thích đưa vào cơ thể.

- Không hút thuốc lá.

- Ngủ đủ 8 tiếng mỗi ngày.

- Giảm cân nếu thừa cân.

- Luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên, đối với bệnh nhân tăng huyết áp các môn thể thao tốt nhất là dưỡng sinh, yoga, thái cực quyền, đi bộ... Vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày.

- Thái độ tinh thần trong cuộc sống: Hạn chế căng thẳng, cáu giận, lạc quan yêu đời giúp vượt qua bệnh tật cũng như những khó khăn của cuộc sống.

- Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu dưới 130/80 mmHg, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ tại các cơ sở y tế chuyên khoa, định kỳ để theo dõi kịp thời.
Xem thêm: tra giao co lam

Người huyết áp tăng thì không nên ăn cái gì ?

Muối

Người bệnh tăng huyết áp không ăn thức ăn kho mặn, nước chấm mặn, các thực phẩm giàu natri như tôm khô, trứng vịt muối, thịt chà bông... Giảm bớt mặn làm giảm huyết áp 2-8 mmHg.
Xem thêm: tra giao co lam

Nhu cầu natri hàng ngày ở người lớn khoảng 200 mg. Bình thường hàng ngày người bình thường ăn 4-6 g natri, tương đương 10-15 g muối. Người huyết áp tăng nên ăn dưới 6 g muối một ngày (khoảng dưới 2 muỗng cà phê). Trong thực tế ăn uống, lượng muối hầu như có trong nhiều thức ăn và thức uống nên để biết đã giảm ăn mặn dưới 6 g muối mỗi ngày không phải dễ, vì vậy cần thực hiện mức độ giảm muối như sau:

+ Giảm nhẹ: Loại bớt các thức chấm trên bàn ăn như nước mắm, nước tương, tương, nước xốt, muối tiêu, bột canh... Hạn chế các thức ăn mặn như tương, chao, mắm các loại, dưa, cà, trứng muối, các loại cá khô..., các thức ăn chế biến sẵn như cháo, phở, mì ăn liền, đồ hộp, giò, chả. Cách này có thể giảm 3-5 g muối một ngày.

+ Giảm trung bình: Cần loại bỏ hoàn toàn các thức ăn mặn và thức ăn chế biến sẵn. Bằng cách này có thể giảm 6-10 g muối mỗi ngày.

+ Giảm nghiêm ngặt: Ngoài việc tuân thủ mức giảm trung bình, trong nấu nướng hoàn toàn không nêm muối, tương, bột ngọt...

Chất béo (lipid)

Tránh ăn nhiều thức ăn chiên xào, hạn chế chất béo bão hòa có trong thịt mỡ, da, nội tạng động vật, nước xương hầm, bơ thực vật, phô mai, lòng đỏ trứng gà, vịt, dầu dừa, dầu cọ...

Chất bột đường (glucid)

Các loại thực phẩm ngọt như bánh kẹo, mứt, nước ngọt... Trái cây nhiều ngọt như xoài, mít, nhãn, vải tươi hoặc khô cần ăn kiêng hoặc ăn rất hạn chế. Các loại tinh bột như cơm, bún, phở... là thực phẩm hàng ngày nên ăn với lượng vừa phải, không ăn quá no, nên chia nhiều bữa.
Xem thêm: dia chi ban tra giao co lam
http://vitana.vn/wp-content/uploads/2015/01/tra-giao-co-lam-300x300.jpg


Chất đạm (protid)

Hạn chế thịt đỏ như thịt bò, cừu, dê, chó làm tăng cholesterol trong máu thúc đẩy tình trạng xơ vữa mạch làm tăng huyết áp.

Thức ăn chế biến sẵn

Hạn chế thịt muối, thịt xông khói, lạp xưởng, xúc xích vì có tỷ lệ muối cao và chứa chất bảo quản dẫn đến tăng huyết áp và nguy cơ ung thư đại tràng.

Các chất kích thích

Cà phê, trà, rượu bia, gia vị (ớt, tiêu) đều là những thực phẩm ảnh hưởng không nhỏ đối với bệnh lý tăng huyết áp. Các chất kích thích làm hưng phấn thần kinh, bất an, mất ngủ, rối loạn nhịp tim...
Xem thêm: gia ban tra giao co lam

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Tinh chất hoa mộc lan trị ung thư

Nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy một hợp chất từ hoa mộc lan từng được y học phương Đông dùng làm thuốc trị chứng lo lắng có thể hiệu quả trong việc đối phó các bệnh ung thư đầu và cổ, theo hãng tin UPI.


Xem thêm: tra giao co lam bao nhieu tien 1kg


http://vitana.vn/wp-content/uploads/2015/01/tra-giao-co-lam-300x300.jpg
Chiết xuất hoa mộc lan trị ung thư đầu và cổ Hoa mộc lan - Ảnh: Shutterstock
Ung thư đầu và cổ, thường là hậu quả của việc lạm dụng rượu và thuốc lá, có tỉ lệ sống sót 50% và cướp đi sinh mạng của hơn 200.000 người mỗi năm chỉ riêng tại Mỹ.

Hợp chất nói trên, có tên gọi honokiol, có khả năng chặn đứng một protein gọi là thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR), vốn hiện diện trong gần như toàn bộ các tế bào ung thư đầu và cổ.
Xem thêm: tac dung tra giao co lam

Các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm honokiol trên các dòng tế bào được lấy từ những loại ung thư khoang miệng, thanh quản, lưỡi và họng ở người, cũng như trên các khối u được cấy vào chuột, và nhận thấy rằng nó đã ngăn chặn thành công những tế bào ung thư.

Dựa trên cuộc nghiên cứu, chiết xuất từ hoa mộc lan cũng gắn chặt với EGFR hơn loại thuốc được sử dụng phổ biến là gefitinib.
Xem thêm: tra giao co lam

Tiến sĩ Santos K. Katiyar, một thành viên của nhóm nghiên cứu tại Đại học Alabama ở thành phố Birmingham cho biết có thể sử dụng honokiol riêng rẽ hoặc kết hợp với những loại thuốc trị liệu sẵn có để đối phó ung thư đầu và cổ.

Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên chuyên san Oncotarget.