Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Nên cho trẻ ăn trứng như thế nào cho đúng?


Trứng là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao, nên dùng thường xuyên cho trẻ, nhưng dùng như thế nào là hợp lý?

tra giao co lam
Trứng rất giàu đạm, dễ hấp thu, cung cấp chất béo, các vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ như: sắt, vitamin A, kẽm… Tuy nhiên không nên ăn quá nhiều, vì chất béo trong trứng cao làm bé dễ bị đầy bụng, khó tiêu, rối loạn tiêu hóa.
Tùy theo tuổi của trẻ mà cho trẻ ăn trứng với ăn số lượng khác nhau: Với trẻ 6-7 tháng tuổi chỉ nên ăn 1/2 lòng trứng gà/bữa, ăn 2-3 lần/tuần; trẻ 8-12 tháng tuổi ăn 1 lòng đỏ/bữa, ăn 3-4 bữa trong 1 tuần; trẻ 1-2 tuổi nên ăn 3-4 quả trứng/tuần, ăn cả lòng trắng; trẻ từ 2 tuổi trở lên nếu bé thích trứng có thể cho ăn 1 quả/ngày.
Cách chế biến trứng cũng tùy theo độ tuổi của trẻ, với trẻ 6-12 tháng tuổi nên cho ăn bột trứng: nấu chín bột mới cho trứng vào, đập lòng đỏ trứng vào bát đã có rau băm nhỏ, đánh đều trứng và rau, nồi bột sôi trên bếp đổ trứng và rau vào quấy đều nhanh tay, bột sôi lên là được, không nên đun kỹ quá. Trẻ 1-2 tuổi có thể ăn cháo trứng, cũng tương tự như nấu bột trứng, khi cháo chín mới cho trứng, đun sôi lại là được, ngoài ra có thể cho trẻ ăn trứng luộc vừa chín tới. Trẻ từ 2 tuổi trở lên có thể ăn cháo trứng, trứng luộc, trứng đúc thịt, trứng sốt cà chua ăn với cơm.
Để bé phát triển toàn diện cần cho ăn uống cân bằng và chế độ ăn đa dạng bao gồm: cá, tôm, thịt lợn, thịt bò, trứng, các loại rau, củ quả để bổ sung đủ các vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể.

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

Thuốc chữa bệnh tiêu hóa lại gây hại…đường tiêu hóa

Các thuốc thông thường để chữa bệnh về đường tiêu hóa có thể gây các tác dụng dụ có hại lên chính hệ tiêu hóa của người bệnh
Các thuốc thường dùng là loại thuốc trung hòa axít chlorhydric, thuốc chống tiết axít hydrochloric (HCl), thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày, thuốc nhuận trường và thuốc điều chỉnh nhu động ống tiêu hóa.
Thuốc trung hòa HCl. Thuốc trung hòa HCl thường được sử dụng hiện nay là các thuốc nhôm hydroxyd, magnesie hydroxyd, nhôm phosphat, canxi carbonat. Các loại thuốc này ngoài tác dụng tích cực trong việc trung hòa chất axít dạ dày, sau khi ngừng dùng chúng có thể gây tăng tiết chất gastrin làm cho dịch vị lại tăng chất axít; các nhà khoa học thường gọi đây là hiện tượng trỗi dậy.
Các loại thuốc có muối nhôm hay gây táo bón, ngược lại các loại thuốc có muối magnesie lại gây ra tiêu chảy do cơ chế thẩm thấu và tiết dịch vị của dạ dày; vì vậy trong công thức điều trị thường phải phối hợp cả hai loại muối này.
Thuốc chống tiết HCl. Những loại thuốc này có thể gây ra triệu chứng buồn nôn, nôn, đi tiêu chảy hoặc táo bón thoáng qua và tự khỏi mà không cần can thiệp biện pháp. Thuốc ức chế bơm proton thường có tác dụng ức chế rất mạnh đến việc tiết HCl nên đã có giả thiết cho rằng tình trạng thiểu toan kéo dài có thể dẫn đến tình trạng phát sinh ung thư nhưng đây chỉ mới là giả thiết.
Thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày. Ngoài tác dụng diệt loại vi khuẩn Helicobacter pylori hiện diện trong dạ dày, bismuth còn có tác dụng băng bó bảo vệ niêm mạc dạ dày. Khi sử dụng nhóm thuốc này, một số tác dụng không mong muốn gây hại về tiêu hóa có thể xảy ra nhưng thường chỉ nhẹ và thoáng qua như: buồn nôn, nôn, đi đại tiện phân lỏng và có màu đen, có khi màu đen xuất hiện ở lưỡi do thuốc.
Thuốc nhuận trường. Những người bị táo bón phải sử dụng thuốc nhuận tràng để can thiệp, thuốc có thể gây ra tác dụng không mong muốn thông thường là đi tiêu chảy do sự thích ứng của từng người bệnh hoặc do liều lượng thuốc sử dụng. Cơ chế gây ra tiêu chảy do thuốc nhuận trường là tăng tiết dịch của niêm mạc ruột hoặc do tăng thẩm thấu.
Biểu hiện lâm sàng ghi nhận trong trường hợp những người sử dụng thuốc nhuận trường có phản ứng không mong muốn là đi tiêu chảy kéo dài, phân lẫn nhiều nước, có thể làm cho người sử dụng gầy sút và nhất là bị hạ chất kali máu được phát hiện trên lâm sàng, điện tâm đồ, xét nghiệm chất điện giải trong máu; độ pH của phân có thể bình thường ở những người dùng thuốc có các muối magnesie hoặc giảm ở những người dùng thuốc có sorbitol, mannitol hay lactulose. Ở những người sử dụng thuốc anthraquinon khi soi đại tràng có thể thấy niêm mạc ruột bị sạm đen, đôi khi phát hiện có cả những nốt loét trợt.
Thuốc điều chỉnh nhu động ống tiêu hóa. Thuốc điều chỉnh nhu động ống tiêu hóa gồm thuốc kích thích nhu động ruột và thuốc kìm hãm nhu động ruột; khi dùng để điều trị bệnh đường tiêu hóa chúng có thể gây nên một số tác dụng không mong muốn.
Thuốc kích thích nhu động ruột thường dùng hiện nay rất ít khi gây ra tác dụng không mong muốn về tiêu hóa, tuy vậy trong một số trường hợp có thể làm đau quặn bụng thoáng qua, bị sôi bụng hoặc đi tiêu chảy. Thực tế chỉ cần giảm liều lượng dùng của thuốc thì sẽ khỏi các triệu chứng.

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

Đau ngực trái đột ngột nguy hiểm như thế nào?

Những cơn đau bất ngờ ở ngực trái có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh tim mạch nguy hiểm, tìm hiểu mức độ nguy hiểm của đau ngực trái đột ngột

>>> tra giao co lam
Những cơn đau ngực trái có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra. Có những nguyên nhân tương đối lành tính (như ngoại tâm thu), trong khi lại có những nguyên nhân là tình trạng cấp cứu nặng (như nhồi máu cơ tim, phình tách động mạch chủ). Nếu bạn còn trẻ tuổi, không có tiền sử bệnh tim mạch, cơn đau ngực ngắn (kéo dài khoảng vài chục giây đến nửa phút) thì thường không liên quan đến tình trạng cấp cứu nghiêm trọng.
dau nguc trai
Khi bị tình trạng này hãy bình tĩnh nghỉ ngơi để cơn đau qua đi và đến khám bác sĩ. Ngược lại, nếu bạn là người có tuổi, có tiền sử bệnh tăng huyết áp, tiền sử đái tháo đường, thì cơn đau ngực trái là một dấu hiệu cho thấy bạn cần phải đến cơ sở y tế ngay lập tức. Trường hợp đau ngực theo từng cơn, mỗi cơn kéo dài từ 10 phút đến vài giờ, có khả năng bị mắc bệnh mạch vành.
Các triệu chứng của cơn đau ngực rất đa dạng, như đau bóp nghẹt ngực, đau bỏng rát, đau như dao đâm, hoặc chỉ là cảm giác tức hay nặng ngực. Cơn đau không giảm đi khi thay đổi tư thế. Những triệu chứng kèm theo có thể là vã mồ hôi, buồn nôn, khó thở, mệt, đánh trống ngực…
Nếu có tiền sử tăng huyết áp, và đau ngực liên tục không giảm, cơn đau lan ra sau lưng, có khả năng bạn bị phồng hay tách thành động mạch chủ. Cả bệnh mạch vành và phồng tách động mạch chủ đều là tình trạng cấp cứu nội khoa. Sự chậm trễ trong việc cấp cứu có thể khiến bạn phải trả giá bằng mạng sống của mình. Do vậy, hãy đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt.

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

Lợi ích bất ngờ khi ăn chuối đỏ

Chuối đỏ có giá trị dinh dưỡng cao hơn chuối vàng, nó chứa nhiều beta-carotene và vitamin C hơn so với chuối vàng
Beta-carotene là chất có tác dụng ngăn chặn các mảng bám ở động mạch, tốt cho tim mạch và ngừa ung thư. Chuối là trái cây rất tốt cho sức khỏe, tuy nhiên hầu hết chúng ta đều chỉ biết chuối vàng mà ít người biết chuối đỏ. Chuối đỏ là chuối Dacca có xuất xứ từ Australia. Kích cỡ quả nhỏ hơn chuối thông thường, vỏ dày màu đỏ đậm, thịt chuối mềm, ngọt và có vị thơm nhẹ.
Chuối đỏ có giá trị dinh dưỡng cao, vượt trội so với chuối vàng. Nó chứa nhiều beta-carotene và vitamin C hơn so với chuối bình thường. Beta-carotene có tác dụng ngăn chặn các mảng bám ở động mạch, bảo vệ cơ thể khỏi sự tấn công của tim mạch và ung thư.
Lợi ích khi ăn chuối đỏ
Chữa trị bệnh ợ nóng. Ăn chuối đỏ thường xuyên tốt cho người hay bị ợ nóng. Chuối đỏ có tác dụng kháng acid làm giảm triệt để triệu chứng ợ.
Ngăn ngừa sỏi thận. Chuối đỏ giàu hàm lượng kali giúp ngăn chặn sự hình thành của sỏi thận, bệnh tim và ung thư, hỗ trợ duy trì canxi và cải thiện sức khỏe của xương. Ăn chuối đỏ thường xuyên là một trong những cách tốt để ngăn ngừa sỏi thận.
Cải thiện máu. Các vitamin và chất chống oxy hóa có trong chuối đỏ cải thiện lượng hemoglobin trong cơ thể mà vẫn giữ được mức glucose trong máu, giúp duy trì hệ thống miễn dịch khỏe mạnh. Chuối đỏ chứa nhiều vitamin B6. Thiếu vitamin B6 là một trong những nguyên nhân gây thiếu máu.
Giảm cân. Chuối đỏ chứa lượng calo ít hơn so với các loại trái cây khác. Nó giúp bạn có cảm giác no mà không cần thêm quá nhiều calo. Ăn chuối đỏ thường xuyên, bạn sẽ giảm trọng lượng dư thừa.
Nguồn năng lượng dồi dào. Cung cấp nguồn năng lượng dồi dào, chuối đỏ chuyển đổi đường thành năng lượng tự nhiên. Nó được coi là một trong những loại thực phẩm tốt để ăn trong bữa sáng.

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Người bệnh tiểu đường cần ăn uống sao cho phù hợp?

Chế độ dinh dưỡng là một trong 3 yếu tố vô cùng quan trọng khi điều trị bệnh tiểu đường, người bệnh tiểu đường cần ăn uống như thế nào để phù hợp?
Người bệnh tiểu đường cần phải kiêng nhiều thứ, nhưng nếu ăn uống như vậy trong thời gian dài có thể gây thiếu chất và hạ đường huyết đột ngột. Do đó người bệnh tiểu đường cần có một chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng.
Vậy ăn như thế nào là phù hợp? Theo các chuyên gia thì thật sự là không có một công thức bữa ăn nào phù hợp cho tất cả bệnh nhân, mà tùy từng thể trạng, cân nặng và mức độ tiêu hao năng lượng từng người sẽ có một chế độ ăn khác nhau.
Người bệnh tiểu đường thường thất bại thay đổi thói quen ăn uống hoặc do phải áp dụng chế độ ăn kiêng quá mức.Chế độ dinh dưỡng đúng cách cho người tiểu đường là phải đảm bảo bữa ăn đủ dinh dưỡng vừa kiểm soát được đường huyết và các yếu tố khác như: huyết áp, mỡ máu, cân nặng. Cụ thể:
Người bệnh cần bổ sung đủ chất bột đường, chất đạm, chất béo, chất xơ và chất khoáng mỗi ngày. Lượng thức ăn tùy theo thể trạng, cân nặng,…
Điểm cần lưu ý là người bệnh cần giảm bánh kẹo ngọt, nước giải khát có đường, bánh mì, nhãn, vải, mít… Nên chọn và ăn nhiều thực phẩm ít làm tăng đường huyết, nhiều chất xơ như: rau xanh, hoa quả ít ngọt như: táo, bưởi, ổi… Về cách ăn uống, không ăn quá đó, ăn chậm nhai kỹ, nên chế biến thức ăn theo kiểu luộc
Những người quá cân, béo phì nên giảm ăn và tăng cường tập thể dục để giảm cân. Tuy nhiên nên giảm cân từ từ, không nên giảm cân quá nhanh, đột ngột.
Người bệnh cần phải đảm bảo ăn đủ 3 bữa trong ngày, với người cân nặng ổn định, đường huyết kiểm soát tốt không cần thiết phải ăn thêm bữa phụ hoặc chia nhỏ bữa ăn. Người bệnh chỉ ăn thêm bữa phụ khi phải vận động nhiều: đi tham quan, chơi thể thao…
Giảm chất béo nhất là mỡ động vật, nội tạng động vật, các sản phẩm chế biến từ động vật vì những chất béo này làm tăng nguy cơ xơ vữa mạch không tốt cho sức khỏe. Người bệnh nên thay thế mỡ động vật bằng dầu thực vật, ăn cá vì đây là nguồn cung cấp các chất béo tốt cho cơ thể.
Nên ăn nhiều chất xơ bằng cách ăn nhiều rau xanh, một số hoa quả sẽ lưu lại dạ dày lâu hơn, ngăn cản các men tiêu hoá tác dụng với thức ăn, làm chậm quá trình tiêu hoá và hạn chế hấp thu đường vào máu.
Đối với những bệnh nhân có nguy cơ bị hạ đường huyết và gây nguy hiểm như bệnh nhân có tuổi, có các biến chứng tim mạch nặng nề, suy thận hoặc bệnh nhân đang dùng thuốc kích thích tụy bài tiết insulin và đặc biệt bệnh nhân đang tiêm insulin thì cần xem xét có bữa phụ, đặc biệt trước khi đi ngủ để tránh hạ đường huyết trong đêm.

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2016

Một số bệnh không nên dùng vitamin

Vitamin là dưỡng chất cần thiết cho cơ thể, phòng chống bệnh tật, thế nhưng không phải ai cũng nên dùng vitamin, đặc biệt là những đối tượng dưới đây
Những người không nên dùng vitamin
Người bệnh ung thư. 
Trong khi có nhiều loại vitamin chống ung thư thì lại có những loại vitamin có thể khiến tế bào ung thư phát triển mạnh và di căn nhanh
Vitamin B1: Người bệnh ung thư phải hết sức cẩn thận với loại vitamin này. Một số bệnh nhân ung thư như bệnh ung thư máu (bệnh bạch cầu), bệnh ung thư đường tiêu hóa và một số khối u ác tính tiến triển nhanh đều gây ra hậu quả thiếu hụt vitamin B1.
Hơn nữa, khi dùng các thuốc điều trị khối u cũng phát sinh ra sự thiếu hụt này dẫn đến những hậu quả như tê bì, suy giảm trí nhớ và tăng lượng acid lactic trong máu (gây tình trạng toan hóa máu). Vì vậy, người bệnh ung thư thường được bác sĩ chỉ định cho dùng bổ sung vitamin B1 trong quá trình điều trị. Nhưng nếu dùng quá nhiều vitamin B1 cho bệnh nhân thì lại gây ra sự tăng trưởng của các khối u làm cho ung thư tiến triển mau hơn.
Vitamin B12: Vitamin B12 được biết đến đầu tiên với tác dụng chống lại bệnh thiếu máu có hồng cầu to (bệnh Biermer) và tăng cường chuyển hóa đối với các nơron thần kinh nên thường được dùng phối hợp với vitamin B1 và vitamin B6 để điều trị nhiều căn bệnh đau nhức, tê bại…

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2016

Làm gì để giảm cân nhanh

Làm gì để giảm cân nhanh – Bạn muốn giảm cân nhanh và không tốn nhiều thời gian? Lưu ý là không nên áp dụng những chế độ ăn uống không lành mạnh vì kết quả sẽ không lâu dài.
>>>>tra giao co lam

Vitana xin giới thiệu 3 bước để giúp các bạn giảm cân nhanh chóng nếu đủ quyết tâm.
1. Luyện tập thể dục
1 ngày bạn luyện tập thể dục khoảng 30p thì có thể đốt cháy hơn 500 calo , nhiều hơn lượng calo ăn trong ngày , duy trì trong khoảng 1 tuần có thể giảm 1-2kG
Nếu muốn giảm cân nhanh bạn phải ăn ít hơn điều này không đồng nghĩa là nhịn ăn , có thể kết hợp với thuốc giảm cân thì sẽ hiệu quả rõ rệt , luyện tập thể thao nhiều hơn ,bạn không cần phải giảm thêm calo nữa sẽ rất nguy hiểm
Nếu bạn đốt cháy hơn 500 calo, nhiều hơn lượng calo bạn ăn mỗi ngày trong một tuần, bạn có thể giảm khoảng 1-2 kg.
2. Chế độ ăn uống nhanh giảm cân
Khuyến nghị nên ăn một chế độ ăn uống giảm thiểu tinh bột, thêm đường, và mỡ động vật từ thịt và các thực phẩm từ sữa. Để giảm cân nhanh chóng, ông đề nghị tập trung vào các loại trái cây, rau, lòng trắng trứng, các sản phẩm đậu nành, ngực gia cầm không da, cá, động vật có vỏ, thực phẩm từ sữa không béo, và 95% thịt nạc.
Hạn chế muối và tinh bột cũng có thể giảm cân nhiều hơn, nhưng đó chủ yếu là chất lỏng chứ không phải chất béo.